sponsor

sponsor

Slider

Recent Tube

Business

Thông Tin Giáo Xứ Quỹ Đê

Life & style

Games

Sports

Fashion

Ðức Thánh Cha chủ lễ cầu hồn cho 151 Hồng Y và Giám Mục.

Ðức Thánh Cha chủ lễ cầu hồn cho 151 Hồng Y và Giám Mục.
Vatican (Rei 3-11-2017) - Sáng ngày 3 tháng 11 năm 2017, Ðức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự thánh lễ tại Ðền thờ Thánh Phêrô để cầu nguyện cho 15 Hồng Y và 137 Giám Mục qua đời trong 12 tháng qua, trong đó có 3 Giám Mục Việt Nam.
Ba Giám Mục Việt Nam là Ðức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, nguyên Giám Mục Nha Trang qua đời ngày 2 tháng 2 năm 2017, Ðức Cha Giuse Vũ Duy Thống, Giám Mục Phan Thiết qua đời ngày 1 tháng 3 năm 2017, và Ðức Cha Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Sang, nguyên Giám Mục Thái Bình, qua đời ngày 5 tháng 10 năm 2017. Ngoài ra có 7 Giám Mục ở Hoa Lục.
Ðồng tế với Ðức Thánh Cha có 40 Hồng Y và 30 Giám Mục hiện diện ở Roma, với sự tham dự của hơn 1 ngàn tín hữu.
Trong bài giảng, dựa vào các bài đọc thánh lễ, Ðức Thánh Cha mời gọi mọi người hãy tin tưởng và hy vọng đứng trước cái chết, tín thác vào lòng thương xót của Chúa.
Ngài nói:
"Niềm tin mà chúng ta tuyên xưng nơi sự phục sinh làm cho chúng ta trở thành những con người hy vọng và không tuyệt vọng, những người của sự sống chứ không phải của sự chết, vì chúng ta được an ủi nhờ lời hứa sự sống đời đời, có cội rễ nơi sự hiệp nhất với Chúa Kitô phục sinh".
"Niềm hy vọng ấy giúp chúng ta có thái độ tín thác đứng trước cái chết. Thực vậy, Chúa Giêsu đã chứng tỏ rằng sự chết không phải là lời nói cuối cùng, nhưng chính tình yêu thương xót của Chúa Cha biến đổi và làm cho chúng ta được sống tình hiệp thông vĩnh cửu với Chúa".
Ðức Thánh Cha cũng nhắc đến các Hồng Y và Giám Mục đã giã từ chúng ta sau khi phục vụ Giáo Hội và Dân Chúa đã được ủy thác cho các vị, trong viễn tượng vĩnh cửu. Ngài nói: "Trong khi chúng ta cảm tạ Chúa vì việc phục vụ quảng đại của các vị dành cho Tin Mừng và Giáo Hội, dường như chúng ta được nghe lập lại với Thánh Phaolô Tông Ðồ: "Niềm hy vọng không đánh lừa" (Rm 5,5). Thiên Chúa là Ðấng tín trung và niềm hy vọng của chúng ta nơi Chúa không phải là hư vô. Chúng ta hãy cầu xin Mẹ Maria chuyển cầu cho các vị, để họ cũng được tham dự bữa tiệc vĩnh cửu, họ đã nếm hưởng trước trong cuộc lữ hành trần thế này". (Rei 3-11-2017)

Mục tử tốt lành gần gũi dân chúng và có lòng trắc ẩn.

Mục tử tốt lành gần gũi dân chúng và có lòng trắc ẩn.
Vatican (REI 30-10-2017) -Mục tử tốt lành là người đến với những người bị loại bỏ hất hủi, là người có lòng thương xót và không xấu hổ khi đụng chạm đến các thân thể bị thương tích. Ngược lại, những người theo chủ nghĩa giáo sĩ trị thì luôn tìm cách tiếp cận với quyền lực hoặc là tiền bạc. Ðức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh những điều này trong bài giảng Thánh lễ sáng thứ Hai 30 tháng 10 năm 2017 tại nhà nguyện thánh Marta, dựa trên đoạn tin mừng theo thánh Luca chương 13, thuật lại sự kiện Chúa Giêsu chữa lành người phụ nữ bị còng lưng từ 18 năm trời.
Vào ngày sabát, ngày thứ Bảy, ngày nghỉ lễ của người Do thái, Chúa Giêsu vào hội đường và ngài gặp một phụ nữ bị còng lưng, không thể đứng thẳng được. Tin mừng nói là bà bị bệnh; đó là một căn bệnh khiến cho bà phải chịu cảnh cúi gầm, không thể đứng thẳng và nhìn lên, từ nhiều năm trời. Thánh sử Luca dùng 5 động từ để nói về những việc Chúa Giêsu làm: Chúa nhìn thấy bà, Chúa gọi bà, nói với bà, "đặt tay trên bà và chữa lành cho bà".
Ðây là 5 động từ diễn tả sự gần gũi, bởi vì một mục tử luôn luôn gần với dân của mình. Trong dụ ngôn người mục tử nhân lành, người mục tử gần với con chiên lạc, bỏ lại những con chiên khác và đi tìm con chiên lạc. Mục tử không thể xa rời dân của mình.
Trái lại, các giáo sĩ, tiến sĩ luật, những người biệt phái, Sađusêu, lại sống tách biệt khỏi dân chúng và luôn luôn trách mắng họ. Ðây không phải là những mục tử tốt lành; họ là những người chỉ thu mình trong nhóm của mình và không quan tâm đến dân chúng. Có thể, đối với họ, điều quan trọng là đến cuối các nghi thức phụng vụ, đi xem có bao nhiêu tiền được dâng cúng. Họ không gần với dân chúng. Nhưng Chúa Giêsu thì ngược lại, sự gần gũi của Ngài với dân chúng xuất phát từ điều ngài cảm thấy trong tim Ngài. Một đoạn Tin mừng khác nói rằng "Chúa Giêsu động lòng thương."
Do đó, Chúa Giêsu luôn luôn ở với người dân bị loại bỏ hắt hủi bởi một nhóm nhỏ các giáo sĩ: ở đó có những người nghèo, người đau yếu bệnh tật, các tội nhân, những người phong cùi, nhưng tất cả họ ở đó, bởi vì Chúa Giêsu có khả năng động lòng thương trước bệnh tật; Ngài là một mục tử tốt lành. Một mục tử tốt lành đến gần dân và có khả năng thương xót. Ðức tính thứ ba của một mục tử tốt lành là không xấu hổ, dám đụng chạm đến thân xác thương tích, như Chúa Giêsu đã tỏ ra đối với người phụ nữ: Ngài chạm đến bà và đặt tay trên bà, Ngài chạm đến người cùi, Ngài chạm đến người tội lỗi.
Mục tử tốt lành thì không nói "được rồi, tôi gần với anh em trong tinh thần"; đó là sự xa cách. Nhưng mục tử tốt lành thực hiện những điều mà Chúa Cha đã làm, đó là gần gũi, để cảm thông, để thương xót, trong thân xác của chính Con của Ngài." Chúa Cha, vị Mục tử cao cả, đã dạy chúng ta cách thức trở nên mục tử tốt lành: hạ mình xuống, làm cho mình trở nên không, tự loại bỏ mình, mang lấy thân nô lệ.
Còn những người theo con đường của chủ nghĩa giáo sĩ thì họ gần ai? Họ luôn gần hay tiếp cận với quyền lực hay tiền bạc. Ðó là mục tử xấu. Họ chỉ nghĩ đến việc leo lên nắm quyền cao hơn, nghĩ đến làm bạn với quyền lực và thỏa hiệp với mọi thứ hoặc nghĩ đến túi tiền của họ. Ðây là những kẻ giả hình, có khả năng làm mọi điều. Ðối với họ, dân chúng không quan trọng. Và khi Chúa Giêsu dùng tính từ "giả hình", nhiều lần, để nói về họ, thì họ phản đối: "nhưng chúng tôi không làm vậy, chúng tôi tuân giữ lề luật."
Mục tử tốt lành là Chúa Giêsu; Ngài nhìn, Ngài nghe, Ngài nói, Ngài đụng chạm và chữa lành. Ðó chính là Chúa Cha, qua Chúa Con nhập thể làm người, thực hiện những điều này vì lòng thương xót
Ðối với dân Chúa, thật là một ân phúc khi có được những mục tử tốt lành, những mục tử như Chúa Giêsu, những mục tử không xấu hổ khi chạm đến thân thể bị thương tích , những mục tử biết rằng không chỉ họ, mà cả chúng ta, sẽ bị phán xét về điều này: Chúa Giêsu sẽ hỏi: khi Ta đói, khi Ta bị giam tù, khi Ta đau bệnh... Các tiêu chuẩn cuối cùng là tiêu chuẩn gần gũi dân chúng, các tiêu chuẩn gần gũi hoàn toàn, để động chạm, chia sẻ với hoàn cảnh của dân Chúa. Chúng ta đừng quên điều này: mục tử tốt lành luôn đến gần dân chúng, luôn luôn, như Chúa Cha của chúng ta, Ngài đã đến gần chúng ta trong chính Chúa Giêsu, Con của Ngài sinh ra làm người để ở gần và ở cùng chúng ta. (REI 30/10/2017)

Ðức Thánh Cha kêu gọi cải tổ tinh thần Âu Châu.

Ðức Thánh Cha kêu gọi cải tổ tinh thần Âu Châu.
Vatican (Rei 28-10-2017) - Ðức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi các tín hữu Kitô góp phần cải tổ tinh thần của Âu Châu và ngài cũng kêu gọi chính quyền đại lục này nhìn nhận vai trò tích cực của tôn giáo trong xã hội.
Ðức Thánh Cha đưa ra lời kêu gọi trên đây trong bài diễn văn dài tại buổi kiến kiến 350 tham dự viên Hội nghị về đề tài "Nghĩ lại Âu Châu" nhóm tại Roma trong hai ngày 27 và 28 tháng 10 năm 2017, với sự tham dự của các nhà chính trị, các Hồng Y, Giám Mục, các đại sứ, đại diện các phong trào và nhiều tín hữu Kitô khác. Hội nghị do Ủy ban Giám Mục Liên hiệp Âu Châu, gọi tắt là Comece, tổ chức.
Ðức Thánh Cha tái khẳng định nền tảng của Âu Châu chính là con người và các cộng đoàn mà Kitô hữu mong muốn và có thể góp phần xây dựng. Những "viên gạch" trong công trình này là "sự đối thoại, bao gồm mọi ngừơi, tình liên đới, phát triển và hòa bình".
Ðức Thánh Cha nói:
"Từ Ðại Tây dương đến rặng núi Ural, từ Bắc Cực đến Ðịa Trung Hải, Âu Châu phải là một nơi đối thoại, theo một nghĩa nào đó, giống như diễn trường Agorà ngày xưa. Âu Châu không phải chỉ là một không gian kinh tế, nhưng còn là một con tim của chính trị".
Và Ðức Thánh Cha mời gọi mọi người hãy cứu xét vai trò tích cực của tôn giáo trong xã hội, cũng như việc đối thoại liên tôn là điều có thể giữa các tín hữu Kitô và Hồi giáo tại Âu Châu. Trong chiều hướng này, ngài cảnh giác chống lại một thứ thành kiến duy thế tục vẫn còn thịnh hành: người ta không nhận thức được giá trị của tôn giáo trong đời sống công cộng, và muốn đóng khung tôn giáo trong lãnh vực riêng tư. Nhưng làm như thế, người ta thiết lập một sự thống trị của một thứ tư tưởng duy nhất, một hiện tượng rất phổ biến trong các môi trường quốc tế, để rồi coi việc khẳng định căn tính tôn giáo là một nguy hiểm đối với chủ nghĩa bá quyền của họ, và rốt cục tạo nên một sự đối nghịch giữa quyền tự do tôn giáo và các quyền cơ bản khác".
Ðức Thánh Cha cũng đề cập đến vấn đề thời sự là di dân. Ngài nói: "Âu Châu phải trở thành một không gian bao gồm mọi người, nhưng đồng thời cũng đề cao giá trị của những khác biệt. Trong viễn tượng này, những ngừơi di dân là một tài nguyên, hơn là một gánh nặng, và không thể bị gạt bỏ tùy ý. Ðàng khác, các chính quyền cũng phải quản lý một cách thận trọng vấn đề di dân. Tuy không phải là dựng lên những bức tường, nhưng cần làm sao để tiến trình di dân tuân hành các quy luật. Về phía những ngừơi nhập cư, họ phải tôn trọng và hấp thụ nền văn hóa của quốc gia tiếp đón họ".
Ðề cập đến sự xung đột các thế hệ chưa từng có ở Âu Châu kể từ thập niên 1960, Ðức Thánh Cha cũng nhắc đến mùa đông dân số ở đại lục này và nói rằng: tại Âu Châu người ta ít sinh con, và quá nhiều thai nhi bị tước bỏ quyền được sinh ra, đó cũng là vì người ta khám phá thấy mình không có khả năng chuyển giao cho người trẻ những phương tiện vật chất và văn hóa để đương đầu với tương lai. Ngoài ra, Âu Châu cũng đang ở trong tình trạng thiếu trí nhớ, do đó cần phải tái khám phá giá trị quá khứ của mình để làm cho hiện tại của mình được phong phú và trao lại cho các thế hệ mai sau một tương lai hy vọng. Bao nhiêu người trẻ đang ngỡ ngàng lạc hướng đứng trước sự vắng bóng các căn cội và viễn tượng, trong khi nền giáo dục phải có sự can dự của toàn thể xã hội". (Rei 28-10-2017)

Ðóng góp của Kitô giáo cho tương lai của châu Âu.

Ðóng góp của Kitô giáo cho tương lai của châu Âu.
Roma (WHÐ 30-10-2017) - "Ðiểm đầu tiên và có lẽ là đóng góp lớn nhất mà người Kitô hữu có thể cống hiến cho châu Âu ngày nay là nhắc cho châu Âu nhớ rằng châu Âu không phải là một tập hợp các con số hay các tổ chức, nhưng được làm nên từ những con người", đó là khẳng định của Ðức giáo hoàng Phanxicô trong bài diễn văn quan trọng tại Hội nghị "Xem xét lại châu Âu. Ðóng góp của Kitô giáo cho tương lai của dự phóng về châu Âu".
Hội nghị là cuộc đối thoại cấp cao giữa Giáo hội và các nhà hoạt động chính trị do Uỷ ban các Hội đồng Giám mục trong Liên minh châu Âu (COMECE) tổ chức tại Roma từ 27 đến 29 tháng Mười năm 2017.
Theo thông cáo báo chí, tham dự Hội nghị này có khoảng 350 người, gồm 28 phái đoàn của tất cả các nước trong Liên minh châu Âu (EU), trong đó có các chính trị gia cấp cao của EU, các hồng y, các giám mục, linh mục, đại sứ, các học giả, đại diện của các tổ chức và nhiều phong trào Công giáo và các hệ phái Kitô giáo.
Ðến tham dự Hội nghị lúc 17g30 thứ Bảy, 28 tháng 10 năm 2017, Ðức giáo hoàng Phanxicô đã đọc một bài diễn văn khá dài; đây là diễn văn lớn thứ 5 của ngài về châu Âu.
Mở đầu bài diễn văn, Ðức giáo hoàng nói rằng "Thật là ý nghĩa khi Hội nghị này trước hết muốn là một cuộc đối thoại trong tinh thần thảo luận tự do và cởi mở, để làm phong phú lẫn nhau và để làm sáng tỏ con đường tương lai của châu Âu, đó là con đường mà tất cả chúng ta được kêu gọi cùng đi với nhau để vượt qua cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang phải đối mặt và trước những thách đố đang chờ đợi chúng ta".
Khởi đi từ hình ảnh của Thánh Bênêđictô, bổn mạng của châu Âu, Ðức giáo hoàng nói: "Thánh Bênêđictô không quan tâm đến vị trí xã hội, sự giàu có hay quyền lực của một người. Ngài căn cứ vào bản tính chung của mỗi con người, vốn luôn yêu mến sự sống và muốn sống hạnh phúc, dù họ ở trong hoàn cảnh nào. Ðối với Thánh Bênêđictô điều quan trọng không phải là nhiệm vụ, nhưng là những con người, không phải là tính từ, mà là danh từ. Ðây là một trong những giá trị cơ bản mà Kitô giáo mang lại: ý thức rằng con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Nguyên tắc này dẫn đến việc xây dựng các tu viện, để rồi trở thành cái nôi của con người, của văn hoá, của sự phục hưng tôn giáo và kinh tế của lục địa này".
Từ đó, Ðức giáo hoàng nhấn mạnh đến hai đóng góp chính mà Kitô giáo cống hiến cho Châu Âu, và có thể trong tương lai nữa. Thứ nhất, "và có lẽ là sự đóng góp lớn lao nhất" của Kitô giáo đối với châu Âu là "nhắc cho châu Âu nhớ rằng châu Âu không phải là một tập hợp các con số hay các tổ chức, nhưng được làm nên từ những con người". Tiếp theo, "nhìn nhận người khác trước hết là một con người nghĩa là đề cao điều liên kết tôi với người ấy. Sự kiện chúng ta là những con người nối kết chúng ta với người khác, làm cho chúng ta trở thành một cộng đồng. Vì thế, đóng góp thứ hai mà Kitô giáo có thể cống hiến cho tương lai của châu Âu là tái khám phá ý thức thuộc về một cộng đồng".
Các Kitô hữu khám phá rằng "căn tính của họ trước hết có tính tương quan. Họ liên kết với người khác như những thành phần của một thân thể là Hội Thánh (x. 1 Cr 12,12), và mỗi người, với căn tính độc đáo và tài năng của mình, sẵn sàng chia sẻ vào công việc chung là xây dựng thân thể ấy".
Và "Gia đình, như cộng đoàn đầu tiên, vẫn là nơi cơ bản nhất của khám phá này. Nét đa dạng ở nơi gia đình được đề cao và đồng thời hiểu được trong sự hiệp nhất. Gia đình là sự kết hợp hài hoà những khác biệt giữa người nam và người nữ, sự kết hợp ấy càng xác thực và sâu xa hơn khi nó sinh sôi, có khả năng mở ra cho sự sống và cho người khác. Cũng vậy, một cộng đồng dân sự sẽ đầy sức sống nếu biết mở ra, nếu biết đón nhận sự đa dạng và tài năng của từng người, đồng thời nếu biết sản sinh sự sống mới, cũng như tạo ra phát triển, việc làm, đổi mới và văn hoá".
"Như thế, con người và cộng đồng là những nền tảng của châu Âu mà người Kitô hữu chúng ta muốn và có thể đóng góp vào việc xây dựng những nền tảng ấy. Những viên đá của toà nhà này là: đối thoại, hòa nhập, liên đới, phát triển và hoà bình".
Trong phần cuối diễn văn, Ðức giáo hoàng trích dẫn Thư gửi Diognetus, một tài liệu có từ thời đầu của Kitô giáo, như sau: "linh hồn là gì đối với thể xác, thì người Kitô hữu đối với thế giới cũng như vậy" (Thư gửi Diognetus, VI). Và Ðức giáo hoàng nói: "Lúc này, người Kitô hữu được kêu gọi mang lại cho cho châu Âu một linh hồn, thức tỉnh lương tâm của châu Âu, không phải để bành trướng -như thế là lôi kéo tín đồ- nhưng là để khuyến khích các tiến trình (x. Tông huấn Evangelii Gaudium, 223) sẽ tạo ra những động lực mới trong xã hội. Ðây đúng là điều mà Ðức Phaolô VI, không phải ngẫu nhiên, đã công bố Thánh Bênêđictô là bổn mạng của châu Âu: Thánh nhân không quan tâm đến việc bành trướng giữa một thế giới đang mất phương hướng và rối ren. Ðược đức tin nâng đỡ, ngài đã nhìn xa hơn và từ một hang động nhỏ Subiaco ngài đã khai sinh một phong trào có sức lan toả và lôi cuốn, vẽ lại khuôn mặt của châu Âu".
Cuối cùng Ðức giáo hoàng dâng lời cầu nguyện: "Xin thánh Bênêđictô -là sứ giả hoà bình, là người xây dựng sự hiệp nhất và bậc thầy của nền văn minh - cho chúng ta là những Kitô hữu của thời nay, hiểu rõ rằng một niềm hy vọng vui tươi, xuất phát từ đức tin, có thể thay đổi thế giới ra sao.


Ðức Thánh Cha kêu gọi các tín hữu sống trọn giới răn mến Chúa yêu người.

Ðức Thánh Cha kêu gọi các tín hữu sống trọn giới răn mến Chúa yêu người.
Vatican (Vat. 29-10-2017) - Trong buổi đọc kinh truyền tin trưa chúa nhật 29 tháng 10 năm 2017 với hơn 30 ngàn tín hữu tại Quảng trường Thánh Phêrô, Ðức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi các tín hữu sống trọn giới răn mến Chúa yêu người.
Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, Ðức Thánh Cha đã quảng diễn bài Tin Mừng theo thánh Mathêu (22,34-40) chúa nhật thứ 30 thường niên năm A, trong đó Chúa Giêsu trả lời câu hỏi do một người Biệt Phái nêu lên: đâu là giới luật quan trọng nhất.
Huấn dụ của Ðức Thánh Cha
Ðức Thánh Cha nói: "Chúa nhật này, Phụng vụ trình bày cho chúng ta một đoạn ngắn của Tin Mừng, nhưng rất quan trọng (Xc Mt 22,34-40). Thánh Sử Matthêu kể lại rằng những người Biệt Phái họp nhau để thử thách Chúa Giêsu. Một người trong họ, tiến sĩ luật, nêu câu hỏi với Ngài: "Thưa Thầy, trong Luật, đâu là giới răn quan trọng nhất" (v. 36). Ðó là một câu hỏi cạm bẫy, vì trong Luật Môisê có nói đến hơn 600 giới luật. Trong tất cả những luật đó, làm sao phân biệt giới răn quan trọng nhất. Nhưng Chúa Giêsu không chút do dự và trả lời: "Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết tâm trí ngươi" và ngài thêm: 'Ngươi hãy yêu thương tha nhân như chính mình" (v.37.39)"
"Câu trả lời này của Chúa Giêsu không phải là điều hiển nhiên mà có, vì trong nhiều giới răn của luật Do thái, quan trọng nhất là 10 giới răn, được Thiên Chúa trực tiếp thông truyền cho Môise, như những điều kiện của giao ước giữa Chúa với dân. Nhưng Chúa Giêsu muốn cho thấy rằng nếu không có lòng mến Chúa và yêu ngừơi, thì không có sự trung thành đích thực với giao ước với Thiên Chúa. Bạn có thể làm bao nhiêu điều tốt lành, thực thi các giới răn, nhưng nếu bạn không có tình yêu, thì việc làm ấy không hữu ích.
Một đoạn văn khác trong sách Xuất Hành, gọi là "Luật giao ước" đã xác nhận điều đó, trong phần này có nói rằng ta không thể ở trong Giao ước với Chúa mà lại ngược đãi những người được Chúa đặc biệt bảo vệ: đó là góa phụ, cô nhi và người ngoại quốc, người di dân, tức là những người cô độc và dễ bị tổn thương nhất (Xc Xh 22,20-21). Khi trả lời cho những người Biệt Phái chất vấn ngài, Chúa Giêsu cũng tìm cách giúp họ đặt thứ tự trong đời sống đạo của họ, tái lập điều thực sự quan trọng và điều kém quan trọng hơn. Ngài nói: "Toàn thể Luật và các Ngôn Sứ tùy thuộc hai giới răn này" (Mt 22,40). Ðó là những giới răn quan trọng nhất, các giới răn khác tùy thuộc hai giới răn đó. Và Chúa Giêsu đã sống như thế: bằng cách rao giảng và thi hành những gì thực sự là quan trọng và thiết yếu, nghĩa là tình thương. Tình thương mang lại đà tiến và sự phong phú cho đời sống và hành trình đức tin: không có tình thương, thì cuộc sống cũng như đức tin sẽ trở nên khô cằn, son sẻ.
Ðiều mà Chúa Giêsu đề nghị trong trang Tin Mừng này là một lý tưởng tuyệt vời, đáp ứng ước mong chân thực nhất của tâm hồn chúng ta. Thực vậy, chúng ta được dựng nên để yêu mến và được mến yêu. Thiên Chúa là Tình Thương, đã tạo dựng chúng ta để cho chúng ta được tham dự cuộc sống của Ngài, để được Ngài yêu mến và yêu mến Ngài, và cùng với Ngài yêu mến tất cả những người khác. Ðó là "giấc mơ" của Thiên Chúa về con người. Và để thực hiện điều đó, chúng ta cần ơn thánh của Chúa, chúng ta cần nhận được nơi mình khả năng yêu mến đến từ chính Thiên Chúa. Chúa Giêsu hiến mình cho chúng ta trong Thánh Thể chính vì điều đó. Trong Thánh Thể chúng ta lãnh nhận Mình và Máu Chúa, nghĩa là chúng ta đón nhận Chúa Giêu qua biểu hiện tột đỉnh tình thương của Chúa, khi Ngài hiến mình cho Chúa Cha để cứu độ chúng ta".
Và Ðức Thánh Cha kết luận rằng: "Nguyện xin Ðức Mẹ giúp chúng ta đón nhận vào trong cuộc sống của chúng ta "giới răn cao cả", mến Chúa yêu người. Thực vậy, tuy chúng ta đã biết giới răn này từ khi còn nhỏ, nhưng không bao giờ chúng ta ngưng trở về với giới răn này và thực hành nó trong những hoàn cảnh khác nhau của đời sống chúng ta"
Chào thăm
Sau khi ban phép lành, Ðức Thánh Cha nhắc đến lễ phong chân phước hôm thứ bẩy 28 tháng 10 năm 2017 tại thành phố Caxias do Sul bên Brazil cho cha Giovanni Schiavo thuộc dòng thánh Giuse Murialdo. "Người sinh tại vùng Vicenza vào đầu thế kỷ 20, và khi còn là một linh mục trẻ, cha được gửi sang Brazil, tại đây cha đã nhiệt thành hoạt động phục vụ dân Chúa và huấn luyện các tu sĩ nam nữ. Ước gì tấm gương của cha giúp chúng ta sống trọn vẹn lòng gắn bó của chúng ta với Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài".
Ðức Thánh Cha ngỏ lời chào thăm đông đảo các tín hữu hành hương đến từ Italia và nhiều nước khác, đặc biệt từ Ai len, Áo, Ðức. Ngài cũng nhắc đến các tham dự viên Hội nghị vế các tu hội đời Italia, mà ngài khích lệ trong việc làm chứng tá Tin Mừng trong thế giới, hiệp hội những ngừơi hiến máu ở Orta Nova, tỉnh Foggia, nam Italia.
Sau cùng, Ðức Thánh Cha chào cộng đoàn ngừơi Togo Phi châu ở Italia và cộng đoàn người Venezuela với ảnh Ðức Mẹ Chiquinquira, Chinita. Chúng ta hãy phó thác cho Ðức Mẹ những hy vọng và mong đợi hợp pháp của hai quốc gia dân tộc này.

Ðức Thánh Cha tiếp Hội nghị về Công pháp quốc tế nhân đạo.

Ðức Thánh Cha tiếp Hội nghị về Công pháp quốc tế nhân đạo.
Vatican (Rei 28-10-2017) - Ðức Thánh Cha Phanxicô cầu mong các tổ chức nhân đạo có thể luôn hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản của tình nhân đạo, không thiên vị, trung lập và độc lập.
Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 28 tháng 10 năm 2017, dành cho các tham dự viên Hội nghị quốc tế kỳ 3 về công pháp quốc tế nhân đạo, nhóm tại Roma. Hiện diện tại buổi tiếp kiến cũng có một số vị Bộ trưởng của các nước.
Lên tiếng trong dịp này, Ðức Thánh Cha nhận xét rằng mặc dù có công pháp quốc tế về nhân đạo, nhưng người ta thấy vẫn còn nhiều hậu quả tiêu cực của chiến tranh trên các thường dân, những tội ác kinh khủng, chà đạp con người và phẩm giá của họ, bất chấp những nguyên tắc sơ đẳng nhất về nhân đạo. Ngoài ra cũng có tình trạng bao nhiêu gia sản, kho tàng văn hóa của nhân loại bị biến thành đống gạch vụn, nhà thương, trường học, nhà thờ bị cố tình tấn công và phá hủy.
Ðức Thánh Cha cảnh giác trước nguy cơ theo đó sự phổ biển các tin tức thuộc loại đó đưa tới tình trạng con người không còn nhạy cảm trước tính chất trầm trọng của vấn đề, và không cảm cảm thương và cởi mở tâm hồn trong tình liên đới. Vì thế cần phải có một sự hoán cải tâm hồn, cởi mở con tim đối với Thiên Chúa và tha nhân, thúc đẩy con người khắc phục sự dửng dưng lãnh đạm và sống tình liên đới thực sự.
Tuy có hiện tượng trên đây, Ðức Thánh Cha cũng ca ngợi nhiều tổ chức từ thiện và phi chính phủ, trong và ngoài Giáo Hội, với các thành viên bất chấp vất vả và nguy hiểm chăm sóc những ngừơi bị thương và các bệnh nhân, chôn cất những người qua đời, cung cấp lương thực và nước uống cho những người đói khát, viếng thăm những người bị cầm tù. Ước gì các tổ chức nhân đạo có thể luôn luôn hành động phù hợp với các nguyên tắc căn bản về tình nhân đạo, giữ thái độ khách quan không thiên vị, và độc lập. (Rei 28-10-2017)

Sứ điệp Ðức Thánh Cha gửi các tu hội đời.

Sứ điệp Ðức Thánh Cha gửi các tu hội đời.
Vatican (Rei 28-10-2017; Vat. 29-10-2017) - Ðức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi các thành viên các tu hội đời hãy mang vào trần thế, vào những hoàn cảnh mình sinh sống, lời đã lắng nghe từ Thiên Chúa.
Ngài đưa ra lời mọi gọi trên đây trong sứ điệp gửi các tham dự Hội nghị các tu hội đời Italia, nhóm tại Học Viện Augustinianum ở Roma trong hai ngày 28 và 29 tháng 10 năm 2017 nhân dịp kỷ niệm 70 năm Tông hiến "Provida Mater Ecclesiae" (Mẹ quan phòng của Giáo Hội), do Ðức Giáo Hoàng Piô 12 ban hành về các tu hội đời. Chủ đề của Hội nghị là "Ði xa hơn và ở giữa. Các tu hội đời: những chuyện say mê và ngôn sứ cho Thiên Chúa và thế giới".
Trong sứ điệp, Ðức Thánh Cha nhắc đến tính chất "cách mạng" trong hình thức mới của đời thánh hiến: các giáo dân và linh mục giáo phận được kêu gọi sống các lời khuyên Phúc Âm giữa đời trong cuộc sống thường nhật hoặc trong sứ vụ mục vụ. Ngài viết: "Ngày nay, anh chị em được kêu gọi trở thành những người khiêm tốn và hăng say mang ý nghĩa của thế giới và lịch sử, trong Chúa Kitô và trong Thánh Linh của Người. Sự kiện anh chị em ở giữa đời không phải chỉ là một hoàn cảnh xã hội học, nhưng còn là một thực tại thần học, giúp anh em chú ý, nhìn, nghe, đồng cảm, chia sẻ niềm vui và trực giác những nhu cầu".
Ðức Thánh Cha gợi ý với các thành viên tu hội đợi 5 thái độ tinh thần giúp tiến bước trong hành trình ơn gọi đặc thù của mình, đó là:
- Cầu nguyện để kết hiệp với Thiên Chúa; gần gũi với tâm hồn và lắng nghe tiếng Chúa;
- Biết phân định những điều thiết yếu với những điều phụ thuộc; làm cho sự khôn ngoan trở nên nhạy bén bằng cách vun trồng nó ngày qua ngày, giúp nhìn thấy đâu là những trách nhiệm cần lãnh nhận và đâu là những công tác ưu tiên.
- Chia sẻ số phận của mỗi người nam nữ, dù những biến cố của thế giới bi thảm và đen tối, vẫn không bỏ mặc cho số phận của thế giới, như Chúa Giêsu và cùng với Chúa yêu thương đến cùng.
- Với ơn Chúa, mang lại can đảm, không bao giờ mất niềm tín thác, biết nhìn điều tốt trong mọi sự.
- Sau cùng là có thiện cảm với thế giới và con người.
Hội nghị các tu hội đời Italia đã kết thúc với thánh lễ lúc 1 giờ trưa chúa nhật 29 tháng 10 năm 2017 do Ðức Hồng Y João Braz de Aviz, Tổng trưởng Bộ các dòng tu và tu hội đời chủ sự tại Ðền thờ Thánh Phêrô.
Trên thế giới hiện nay có 193 tu hội đời với tổng cộng gần 32,400 thành viên. (Rei 28-10-2017)

Tìm Nét Riêng của Học viện Công giáo Việt Nam.

Tìm Nét Riêng của Học viện Công giáo Việt Nam.
Xuân Lộc (WHÐ 28-10-2017) - Sáng 21 tháng 10 năm 2017, tại Toà Giám mục Xuân Lộc, Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN) đã tổ chức buổi họp mặt đầu tiên của năm học 2017-2018 giữa các giáo sư và các vị hữu trách thuộc Ban điều hành Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN). Ðây là dịp để các tham dự viên gặp gỡ, trao đổi và đóng góp ý kiến xây dựng Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN). Thành phần tham dự gồm có Ðức Giám mục Viện trưởng Giuse Ðinh Ðức Ðạo, Giám mục giáo phận Xuân Lộc, Chủ tịch Uỷ ban Giáo Dục; các cố vấn của Ðức Giám mục Viện trưởng: Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ; Lm. Giuse Tạ Huy Hoàng, Tổng giáo phận Sài Gòn; Lm. Giuse Ngô Ngọc Khanh, OFM; Lm. Vinh Sơn Nguyễn Cao Dũng, SCJ; cùng 23 thành viên thuộc các ban ngành của Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN): Ban Giảng huấn, Ban Ðồng hành, Ban Thư ký, Ban Thư viện và Ban Tài chính.
Lm. Giuse Ngô Ngọc Khanh chủ sự phần cầu nguyện đầu giờ. Tiếp đến, Lm. Vinh Sơn Nguyễn Cao Dũng, Tổng Thư ký Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN), giới thiệu các tham dự viên. Mở đầu cuộc hội thảo, Ðức Giám mục Viện trưởng chào mừng các tham dự viên và bày tỏ tâm tình biết ơn đến các giáo sư, thành viên các ban ngành của Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN), những người đã tiên phong góp phần xây dựng Học viện. Ðức Giám mục Giuse nêu lên những thuận lợi cũng như những khó khăn về mọi mặt trong những bước khởi đầu xây dựng Học viện. Ngoài ra, Ðức Giám mục Viện trưởng xác định Học viện Công giáo cần xây dựng những nét riêng cũng như lập những truyền thống riêng cho Học viện. Ðức cha nhấn mạnh đến điểm khác nhau cơ bản của Học viện Công giáo và các Ðại chủng viện cũng như các học viện khác, đó là mục đích đào tạo. Học viện Công giáo nhằm đào tạo những người có khả năng suy tư, nghiên cứu, và giảng dạy Thần học cho Giáo hội.
Sau lời phát biểu của Ðức Giám mục Viện trưởng, Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, Trưởng ban Học vụ và Phụ trách chương trình Cao học của Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN), đã trình bày tư tưởng "Thử tìm Nét Riêng của Học viện Công giáo Việt Nam". Bài phát biểu đề cập nét đa dạng của Học viện với thành phần Ban giảng huấn đến từ nhiều môi trường học vấn khác nhau, thuộc nhiều nước và nhiều linh đạo khác nhau. Ngoài ra, Lm. Antôn cũng nhấn mạnh đến phương pháp học tập tích cực của Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN) nhằm đào tạo những sinh viên có khả năng suy tư, nghiên cứu và phản biện; đồng thời biết trình bày những tư tưởng Thần học một cách khoa học và sáng sủa. Ngôn ngữ là phương tiện cần thiết cho sinh viên tiếp thu kiến thức và trình bày những suy tư của mình. Học viện quan tâm nhiều đến việc củng cố và phát triển khả năng Việt ngữ cũng như việc nâng cao khả năng đọc hiểu Anh ngữ cho sinh viên. Hơn nữa, Học viện còn quan tâm đến bối cảnh văn hóa xã hội và tôn giáo đặc thù ở Việt Nam để có thể "xây dựng một nền thần học với những nét riêng phù hợp với dân tộc Việt Nam".
Tiếp đến, Lm. Giuse Tạ Huy Hoàng, Phụ trách Ban Ngôn ngữ đã trình bày "Anh văn và Ngôn ngữ trong Dự phóng Chương trình Ðào tạo Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN)". Bài phát biểu nêu lên những trăn trở trong việc phát triển khả năng đọc viết bằng tiếng Anh cho sinh viên và trình bày những chương trình cụ thể mà ban Anh ngữ Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN) đang thực hiện trong học kỳ I của năm học 2017-2018.
Sau các bài phát biểu là phần đóng góp ý kiến sôi nổi và chân thành của các tham dự viên. Các ý kiến xoay quanh vấn đề chính như điều kiện tuyển sinh, chương trình học, phương pháp học, phương tiện hỗ trợ (thư viện và kỹ thuật) và những quy chế cần thiết của Học viện. Các ý kiến đã được Ðức cha Viện trưởng cùng các ban ngành của Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN) trân trọng đón nhận. Chắc chắn những góp ý này sẽ được Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN) cân nhắc để thực hiện trong tương lai.
Sau cùng, Ðức cha Viện trưởng trình bày những khó khăn trong việc tuyển sinh vào Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN). Mục tiêu hàng đầu của Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN) là giúp đào tạo những ứng viên có tiềm năng để họ trở thành những người có khả năng phục vụ Giáo hội Việt Nam trong lãnh vực nghiên cứu và giảng dạy Thần học. Vì vậy, Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN) cần những giáo sư không những chỉ có chuyên môn vững vàng để giảng dạy, mà cần có tấm lòng để nâng những sinh viên tiềm năng thành những nhà nghiên cứu tài đức cho Giáo hội.
Sau cuộc hội nghị, các thành viên cùng chia sẻ bữa ăn agapé với Ðức cha Giuse và Ðức cha Phụ tá giáo phận Xuân Lộc Gioan Ðỗ Văn Ngân.
Cũng cần nhắc lại: ngày 14 tháng 09 năm 2015, Bộ Giáo dục Công giáo Toà Thánh đã ký sắc lệnh thành lập Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN) nhằm đáp ứng nhu cầu học hỏi và trau dồi thêm kiến thức Thần học và Mục vụ của các thành phần Dân Chúa. Năm học 2017-2018, Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN) có 68 sinh viên theo học ba chương trình: Cử nhân Thần học gồm 40 sinh viên, Cao học Thần học gồm 18 sinh viên, và Năm Chuẩn bị cho chương trình Cao học gồm 10 sinh viên. Hiện nay, các hoạt động của Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN) diễn ra tại Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận Sài Gòn -, số 6 bis Tôn Ðức Thắng, Quận 1.

65 ngàn bạn trẻ đã trả lời Bản câu hỏi của Thượng Hội đồng Giám mục về người trẻ.

65 ngàn bạn trẻ đã trả lời Bản câu hỏi của Thượng Hội đồng Giám mục về người trẻ.
Roma (WHÐ 27-10-2017) - Từ ngày 14 tháng Sáu năm 2017, Văn phòng Thượng Hội đồng Giám mục đã đăng tải bản câu hỏi trên mạng internet nhằm lấy ý kiến của người trẻ trên khắp thế giới, để chuẩn bị cho Khoá họp thường lệ thứ XV của Thượng Hội đồng Giám mục, sẽ diễn ra vào tháng Mười năm 2018 tại Roma với chủ đề: "Người trẻ, đức tin và sự phân định ơn gọi". Cho đến nay bản câu hỏi đã nhận được 65,000 câu trả lời, một con số khá khiêm tốn.
Bản câu hỏi gửi đến những người trẻ từ 16 đến 29 tuổi trên toàn thế giới, là cuộc tham khảo ý kiến trực tiếp chưa từng có, được thực hiện song song với sự đóng góp của các Hội đồng Giám mục ở các quốc gia. Bản câu hỏi này được thích nghi với người trẻ, dành cho tất cả mọi người, thuộc mọi tôn giáo và mọi vùng miền, quốc gia.
Gần 150,000 lượt truy cập và 65,000 phản hồi
Ðây là lần đầu tiên kể từ khi đăng tải bản câu hỏi, và hơn một tháng trước khi khoá sổ, Ðức hồng y Lorenzo Baldisseri, Tổng thư ký Thượng Hội đồng Giám mục, cho biết một vài số liệu liên quan. Có 148,247 người truy cập bản câu hỏi. Khoảng một nửa trong số đó, 65,000 người, đã trả lời đầy đủ. Và khoảng 3,000 người đã để lại địa chỉ e-mail với mong muốn, như trang web gợi ý, sẽ được thông báo về kết quả cuối cùng.
Các số liệu trên đây được đăng tải trên nhật báo L'Osservatore Romano số ra ngày thứ Ba 24 tháng 10 năm 2017, theo công bố của Ðức hồng y Baldisseri trong một cuộc họp báo tại Pordenone, miền bắc Italia vào tuần trước, dành cho các nhà xuất bản tôn giáo ở Italia.
Các số liệu này khá khiêm tốn đối với một bản câu hỏi với quy mô toàn cầu. Ðặc biệt nếu chúng ta so sánh với con số 2.5 triệu người trẻ tham dự Ngày Giới trẻ Thế giới gần đây tại Krakow (Ba Lan) vào mùa Hè năm 2016.
Trong số những người theo sát việc chuẩn bị Thượng Hội đồng Giám mục, một số người ghi nhận rằng truyền thông không phải lúc nào cũng hoạt động hiệu quả theo từng quốc gia. Rào cản ngôn ngữ cũng là một hạn chế. Chẳng hạn, bản câu hỏi không được dịch sang tiếng Ðức. Vì thế, Hội đồng Giám mục Ðức đã dịch và phổ biến bản câu hỏi này, nhưng những câu trả lời của giới trẻ Ðức không được tính vào số liệu do Ðức hồng y Baldisseri đưa ra.
Những phê bình về nội dung và hình thức của bản câu hỏi
Trong cuộc họp báo nói trên, Ðức hồng y Baldisseri cũng đưa ra một bản tóm tắt các bình luận về bản câu hỏi. Ngài trích dẫn một số câu trả lời của các bạn trẻ người Pháp, cho biết họ rất vui khi có dịp bày tỏ ý kiến. Nhưng vị thư ký Thượng Hội đồng Giám mục cũng không tránh né đề cập đến những lời phê bình đã nhận được. Về hình thức, một số bạn trẻ cho rằng bản câu hỏi quá dài; về nội dung, các câu hỏi đặc biệt liên quan đến các chủ đề ít hoặc không được đề cập đến, trong số đó, có các vấn đề liên quan đến rượu hoặc ma túy, tình dục và đời sống tình cảm hoặc mối tương quan với các tôn giáo khác. Ðây là những phê bình đã được các bạn trẻ nêu lên khi họ tham dự một hội thảo tại Vatican về giới trẻ hồi tháng Chín vừa qua, trong khuôn khổ chuẩn bị cho Thượng Hội đồng Giám mục.
Ðức hồng y Baldisseri lặp lại rằng những đóng góp của người trẻ là "cần thiết để giúp cho những đúc kết (của Thượng Hội đồng Giám mục) đáp ứng với thực tế của Giáo hội và của xã hội". Không có những đóng góp ấy, Ðức hồng y khẳng định, "chúng ta có nguy cơ xây nên một "lâu đài trên cát" không có người ở, vì người trẻ chẳng thấy ở đấy có ích lợi gì".
Thời hạn cuối cùng để trả lời cho Bản câu hỏi - đăng tại địa chỉ: http://youth.synod2018.va - là ngày 30 tháng Mười Một năm 2017. Các câu trả lời sẽ được dùng vào việc soạn thảo Instrumentum Laboris (Tài liệu làm việc) cho Khoá họp thường lệ thứ XV của Thượng Hội đồng Giám mục.
(La Croix)


Các Giám mục Colombia phản đối luật áp dụng eutanasia (làm cho chết êm dịu) đối với trẻ vị thành niên.

Các Giám mục Colombia phản đối luật áp dụng eutanasia (làm cho chết êm dịu) đối với trẻ vị thành niên.
Colombia (REI 27-10-2017) - "Ðó là sự vi phạm trầm trọng phẩm giá của con người", Hội đồng Giám mục Colombia đã phê bình như thế về quyết định mới đây của Bộ Lập pháp Colombia, cho phép áp dụng "eutanasia" (giúp cho chết êm dịu) ngay cả với những trẻ em vị thành niên.
Trong thông cáo được đức cha chủ tịch Oscar Urbina - tổng giám mục giáo phận Villavicencio, đức cha Ricardo Tobón - Tổng giám mục Giáo phận Medellín và Ðức cha Tổng thư ký Elkin Alvarez - Giám mục phụ tá giáo phận Medellín, đồng ký tên, các đức cha nói rằng: "Chúng tôi nhận thấy rằng quyết định mới đây của Tòa án về việc điều chỉnh vấn đề này đi ngược với nguyên tắc của hiến pháp là bảo vệ sự sống (điều 11) và mở ra một thực tế là xã hội đi đến chỗ hợp pháp hóa việc loại trừ một số người, đặc biệt những người yếu đuối và cần được giúp đỡ."
Các đức cha mời gọi nhấn mạnh rằng sự sống là món qua vĩ đại tuyệt vời của Chúa và yêu cầu dùng mọi nỗ lực để bảo vệ các phúc lợi tương xứng, hiệu quả và nhân bản trong chăm sóc sức khỏe, gia tăng các hoạt động đồng hành và giảm nhẹ đau đớn cho bệnh nhân.
Cuối cùng, các giám mục kêu gọi các nhà làm luật và những người hoạt động trong lãnh vực y tế nhớ lời mời gọi của Ðức Giáo hoàng Phanxicô để có "những quyết định can đảm và đi ngược dòng" để bảo vệ sự sống, đặc biệt của người nghèo và yếu đuối nhất.
Tại Colombia, eutanasia (làm chết êm dịu) đã được hợp pháp hóa từ năm 2015, nhưng chỉ đối với người trưởng thành. Vì vậy, bộ lập pháp đã yêu cầu "điền vào luật còn trống" này. Theo các quan tòa, trên thực tế, việc "cung cấp cái chết" tránh cho những trẻ vị thành niên khỏi những phương pháp điều trị độc ác và vô nhân đạo.
Luật pháp đòi phải đáp ứng những yêu cầu cụ thể: đó phải là một người bệnh ở giai đoạn cuối, bày tỏ sự ưng ý và tự do, được thông báo rõ ràng và nếu bệnh nhân không thể diễn tả ý mình rõ ràng thì sự chấp thuận của người đại diện phải được đánh giá nghiêm ngặt. (REI 27/10/2017)

Thánh lễ Tạ ơn mừng kỷ niệm Ngân khánh Giám mục (1992 – 2017) của Đức cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên

Tòa giám mục Vinh vừa ra thông báo tới toàn thể cộng đồng Dân Chúa về việc Giáo phận sẽ tổ chức Thánh lễ Tạ ơn mừng kỷ niệm Ngân khánh Giám mục (1992 – 2017) của Đức cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên, nguyên Giám mục giáo phận Vinh[1].

Theo thông báo được ký tên bởi Cha Đại diện giám mục Phê rô Nguyễn Văn Vinh cho biết, Thánh lễ sẽ được tổ chức lúc 08h00’ thứ Năm, ngày 16 tháng 11 năm 2017 tới đây, tại Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài. Việc làm rất tốt đẹp này thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn và tâm tình yêu mến của mọi thành viên đại gia đình giáo phận Vinh dành cho vị mục tử của mình. Thông báo cũng mời gọi mọi người cùng hiệp ý dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, ý thức thực hành những hy sinh thiết thực và cầu nguyện cách đặc biệt cho Đức cha Phaolô Maria trong dịp hồng ân trọng đại này.

Như đã biết, Ðức cha Phaolô Maria Cao Ðình Thuyên sinh ngày 07/12/1926 tại giáo họ Tràng Lưu, giáo xứ Tràng Lưu, Giáo phận Vinh. Ngày 01/11/1992 Tòa Thánh bổ nhiệm ngài làm Giám mục phó Giáo phận Vinh. Ngày 11/12/2000  ngài được Tòa thánh bổ nhiệm làm Giám mục chính tòa. Sau 10 năm trên cương vị chủ chăn Giáo phận Vinh, ngày 13/05/2010 Tòa Thánh đã chấp nhận đơn xin từ nhiệm của ngài.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã bổ nhiệm Đức Cha Kikuchi Isao, cho đến hiện nay là Giám mục Chính tòa Niigata, Nhật Bản, làm Tổng Giám mục Tokyo,

Hôm thứ Tư, ngày 25/10/2017 vừa qua, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã bổ nhiệm Đức Cha Kikuchi Isao, cho đến hiện nay là Giám mục Chính tòa  Niigata, Nhật Bản, làm Tổng Giám mục Tokyo, theo bản tin Radio Vatican cho hay.

Đức tân Tổng Giám mục Tokyo sinh năm 1958, thuộc  Hội Thừa sai Ngôi Lời. Ngài thụ phong linh mục năm 1986 và được tấn phong giám mục vào năm 2004. Trong cơ cấu Hội đồng Giám mục Nhật Bản, ngài được giao trọng trách về Ban Bác Ái, đặc biệt là nỗ lực cứu trợ các nạn nhân sau thảm họa sóng thần xảy ra tại Nhật Bản vào năm 2011.

Được biết, mới đây Đức Cha Kikuchi Isao cũng đã bày tỏ quan điểm của mình trong nhật báo của Tòa Thánh Osservatore Romano về cuộc khủng hoảng trở lại trên bán đảo Triều Tiên mà không khỏi làm nhiều người dân Nhật phải bận tâm. Theo ngài, giải pháp duy nhất nhằm thoát khỏi cuộc khủng hoảng này là đối thoại để cùng chung sống trong hòa bình trong khu vực này tại Á châu.

Giáo phận hiện thời Niigata mà Đức Cha Isao coi sóc thuộc thành phố cảng, nằm cách thủ đô Tokyo 330 km theo hướng Bắc.

Như vậy, với bổ nhiệm mới này, Đức Cha Kikuchi Isao thay cho vị tiền nhiệm, Đức Tổng Giám mục Peter Takeo Okada, người vừa được Đức Thánh Cha chấp nhận đơn từ nhiệm do tuổi tác theo như Giáo luật quy định.

Ðời sống gia đình gương mẫu của ông bà Ulisse e Lelia Amendolagine.

Ðời sống gia đình gương mẫu của ông bà Ulisse e Lelia Amendolagine.
Roma (FC 28-08-2014; Vat. 27-10-2017) - "Hôn nhân chắc chắn là một trong những ơn gọi cao quý và lớn lao nhất, như hôn nhân hướng dẫn các đôi vợ chồng trở nên thánh. Ông bà Ulisse e Lelia Amendolagine đã hiểu rất rõ điều này. Sự hiện diện sống động và hiệu lực của Thiên Chúa trong sự kết hiệp của họ là bí mật của sự trung thành với nhau, không thể phân chia của họ, là bí mật của sức mạnh để đối diện với những phấn đấu hàng ngày để sinh tồn và của niềm vui rạng ngời để lan truyền ánh sáng và hy vọng của Chúa Kitô trong gia đình và trong xã hội." Ðó là lời của tác giả Luca Pasquale giới thiệu cho cuốn sách "Một gia đình được Tin mừng hướng dẫn", kể lại câu chuyện của đôi vợ chồng Ulisse e Lelia Amendolagine.
Ông Ulisse sinh năm 1893 tại Salerno, miền nam Italia, còn bà Lelia sinh cùng năm 1893 tại Potenza. Năm 1929, họ đã gặp gỡ và quen biết nhau ở Roma. Ngoài những nét hấp dẫn của riêng mỗi người, Ulisse và Lelia còn tìm thấy điểm chung là đức tin sâu sắc và ước muốn xây dựng một gia đình Kitô giáo. Một năm sau đó, ngày 29 tháng 9 năm 1930, họ làm lễ thành hôn tại giáo xứ thánh Têrêsa do các cha dòng Cát minh nhặt phép phụ trách. Hai vợ chồng đã nhanh chóng trở thành những thành viên tích cực của giáo xứ: ông Ulisse gia nhập dòng ba Cát minh, còn bà Lelia thì trở thành thành viên của Huynh đoàn Ðức Mẹ Carmine.
Gia đình ông bà Ulisse và Lelia nhanh chóng được nhân rộng với sự chung sống của cha mẹ và một số anh chị em của hai người. Tuy thế, Leila đã là người phụ nữ đảm đang, sắp đặt công việc gia đình với sự hiền dịu và khả năng quản lý. Bà Lelia và chồng siêng năng cầu nguyện với nhau: mỗi sáng, trước khi bắt đầu ngày mới và mỗi tối, sau khi kết thúc một ngày, hai vợ chồng cùng quỳ ở chân giường của họ và cầu nguyện. Năm 1931, đứa con trai đầu lòng Leonardo của ông bà ra đời và sau đó là 4 người con khác. Ông bà đã đón nhận các con như những món quà Chúa ban và nuôi dưỡng, giáo dục chăm sóc các con về đời sống nhân bản và tôn giáo, luôn trao đổi với các giáo viên của các con, theo dõi việc học của các con khi ở trường và khi có thời gian rảnh rỗi. Hai con trai trong số 5 người con của ông bà: Giuseppe trở thành linh mục dòng Cát minh với tên gọi Raffaele, và Roberto thì trở thành linh mục của giáo phận Roma. Ông bà Ulisse e Lelia cũng cởi mở và phát triển các mối quan hệ với người khác, sẵn sàng giúp đỡ với sự tôn trọng và lòng quảng đại bất cứ ai cần đến họ, về vật chất cũng như tinh thần. Họ đã sống cuộc sống như thế trong những năm khó khăn của thế chiến thứ hai.
Cả hai ông bà Ulisse và Lelia đã sống đức tin cách đơn giản nhưng mạnh mẽ. Lòng tín thác vào Thiên Chúa quan phòng của ông bà gia tăng ngay cả khi sống trong sự thiếu thốn những thứ cơ bản nhất để sinh tồn. Sức mạnh của ông bà chính là cầu nguyện chung, Thánh Thể và sự trông cậy vào Ðức Trinh nữ Maria. Họ sẵn sàng dâng các con cho Chúa trong đời tu trì ngay cả khi gặp sự phản đối của họ hàng. Trước ngày người con trai Giuseppe bước vào đời sống tu trì, bà Lelia đã viết cho cậu: "Trong bất cứ hoàn cảnh nào của cuộc sống, con phải luôn tìm kiếm nước thiên đàng. Thiên Chúa biết ai thích hợp cho đời linh mục hay đời sống giáo dân, con cần để cho Chúa làm." Khi bị ung thư màng ruột, bà Lelia vẫn phó thác cho sự gìn giữ của Mẹ Maria và bà đã qua đời ngày 3 tháng 7 năm 1951, trong sự che chở của Ðức Mẹ, sau hai năm chịu đau bệnh. Năm 1955, ông Ulisse cũng ngã bệnh và sau những năm chịu đựng đau khổ, cô độc với đức tin anh hùng, ông qua đời ngày 30 tháng 5 năm 1969, trong sự chiêm ngắm Thiên Chúa và trong cánh tay của thánh nữ Têrêsa, sau khi đã được đón nhận các bí tích sau cùng do hai người con linh mục trao ban.
Ngày 18 tháng 6 năm 2004, Ðức hồng y Camillo Ruini, giám quản Roma lúc đó, đã khai mạc tiến trình điều tra phong chân phước cho ông bà, trước sự hiện diện của 4 người con còn sống là Teresa, Francesco, cha Giuseppe và cha Roberto. Theo Ðức hồng y, sức mạnh bền chặt của mối liên kết vợ chồng không thể chia cắt được của ông bà Ulisse và Lelia được đâm rễ từ bí tích hôn nhân. Sự trung thành với ơn gọi hôn nhân và giáo dục con cái trong đời sống kitô giáo và gương sống chịu đựng gian khổ đau đớn của họ dưới ánh sáng của đức tin sâu sắc và sự dấn thân của gia đình trong việc tham gia tích cực vào đời sống giáo xứ là gương mẫu của đời sống hôn nhân." Cuộc điều tra ở cấp giáo phận đã kết thúc vào ngày 24 tháng 5 năm 2011. Ðôi vợ chồng đã được tuyên phong lên hàng "Tôi tớ Chúa" và án phong chân phước vẫn đang được tiến hành. (FC 28/08/2014)

Ðức Thánh Cha gặp gỡ các học sinh Nam Mỹ.

Ðức Thánh Cha gặp gỡ các học sinh Nam Mỹ.
Vatican (Rei 27-10-2017) - Chiều ngày 26 tháng 10 năm 2017, Ðức Thánh Cha Phanxicô đã gặp gỡ các nhóm học sinh từ một số nước Nam Mỹ và ngài kêu gọi các em đừng rơi vào vòng nghiện ngập ma túy.
Cuộc gặp gỡ diễn ra tại trụ sở tổ chức quốc tế gọi là Scholas Occurentes ở nội thành Vatican. Tổ chức này do Ðức Thánh Cha sáng lập khi còn là Tổng Giám Mục giáo phận Buenos Aires với mục đích góp phần giáo dục các học sinh ở những vùng sâu vùng xa. Nay nó trở thành một tổ chức quốc tế thuộc quyền Tòa Thánh, và hiện diện tại 190 quốc gia, qua một mạng liên kết hơn 446 ngàn trường học và hệ thống giáo dục.
Tham dự cuộc gặp gỡ với Ðức Thánh Cha chiều thứ Năm 26 tháng 10 năm 2017 có các học sinh từ Mêhicô, Argentina, Paraguay và Puerto Rico, và đề tài được nói đến là ma túy, di dân, việc chăm sóc thiên nhiên và nạn tự tử. Các bạn trẻ đã trình bày cho Ðức Thánh Cha các vấn đề của họ, kể cả những hậu quả do thiên tai gây ra như cuồng phong María mới đây ở Puerto Rico, nạn động đất tại Mêhicô trong hai ngày 7 và 19 tháng 9 năm 2017, làm cho 471 người chết. Nhiều học sinh ở các nước khác cũng theo dõi và góp ý với cuộc gặp gỡ qua hệ thống truyền hình. Ðức Thánh Cha cũng nhân tiện dịp này khích lệ những người Mỹ châu la tinh ở bang Texas Hoa Kỳ bị thiệt hại vì cuồng phong Harvey, và giải thích cho các học sinh về tâm quan trọng phải chăm sóc thiên nhiên để bớt được các thiên tai.
Các bạn trẻ ở khu phố Villa 31 ở Argentina đã lên án nạn bạo lực và chiến tranh. Và Ðức Thánh Cha cũng nhắc nhở họ rằng: 'Các con đừng để mình bị đánh lừa, ma tủy không giải quyết được gì cả, đó chỉ là những viên đá màu mà ngừơi ta muốn làm cho các con coi đó là những hạt ngọc quí giá. Các con đường để mình bị lường gạt". (Rei 27-10-2017)

Ðức Thánh Cha trò chuyện với phi hành đoàn trên trạm không gian quốc tế.

Ðức Thánh Cha trò chuyện với phi hành đoàn trên trạm không gian quốc tế.
Vatican (REI 26-10-2017) - "Anh em là một tòa nhà bằng kiếng nhỏ mà tổng thể lại lớn hơn tổng số của các phần". Ðó là những lời Ðức Thánh Cha Phanxicô nói với các phi hành gia của trạm không gian quốc tế vào chiều ngày 26 tháng 10 năm 2017.
Vào lúc 3 giờ chiều Roma ngày 26 tháng 10 năm 2017, Ðức Thánh Cha Phanxicô đã có cuộc trò chuyện kéo dài khoảng 25 phút với phi hành đoàn trên trạm không gian quốc tế đang ở trên quĩ đạo. Ðức Thánh Cha đã đặt một số câu hỏi cho 6 thành viên của phi đội.
Ðức Thánh Cha chào phi hành đoàn và tiến sĩ phi hành gia người Ý Paolo Nespoli. Ngài cám ơn các phi hành gia và tất cả những người đã sắp xếp buổi kết nối hôm nay, đã cho ngài cơ hội "găpcác phi hành gia" và hỏi họ vài điều.
- Câu hỏi đầu tiên của Ðức Thánh Cha là: Thiên văn học giúp chúng ta chiêm ngắm những chân trời vô hạn của vũ trụ và gợi lên trong lòng chúng ta những câu hỏi: chúng ta đến từ đâu? Tôi muốn hỏi tiến sĩ Nespoli: dưới ánh sáng những kinh nghiệm ở trong không gian của tiến sĩ, ông nghĩ gì về chỗ của con người trong vũ trụ?
+ Tiến sĩ Nespoli trả lời: thưa Ðức Thánh Cha, đây là một câu hỏi phức tạp. Con nghĩ mình là một kỹ thuật viên, một kỹ sư, con ở giữa các máy móc, với các kinh nghiệm; nhưng khi nói về những điều như "chúng ta đến từ đâu".. con bị bối rối. Ðây là vấn đề khó nói. Con nghĩ là mục đích của chúng con là nhận biết sự hiện hữu của chúng con, để làm đầy sự hiểu biết, hiểu những điều xung quanh chúng ta... Con thích có những người như ngài, không chỉ là các kỹ sư và vật lý gia, nhưng là các thần học gia, triết gia, văn sĩ, thi sĩ có thể đến đây với chúng tôi để khám phá việc một người ở trong không gian có nghĩa gì.
- Tiếp đến, Ðức Thánh Cha nhắc lại câu nổi tiếng mà thi sĩ Dante đã kết thúc tác phẩm "Hài kịch thần linh", "tình yêu di chuyển mặt trời và các vì sao khác". Ngài hỏi các phi hành gia, khi nói tình yêu là sức mạnh di chuyển vũ trụ, điều này có nghĩa gì với họ.
+ Trả lời câu hỏi này của Ðức Thánh Cha, phi hành gia người Nga Alexander Misurkin đề cập đến cuốn sách "Hoàng tử nhỏ" của Antoine de Saint-Exupéry, kể về một cậu bé đã sẵn sàng hy sinh sự sống để cứu các cây cối và thú vật trên trái đất và ông nói: một cách căn bản, tình yêu là sức mạnh đem lại cho bạn khả năng trao bạn sự sống của bạn vì một ai đó.
- Câu hỏi thứ ba của Ðức Thánh Cha, như ngài nói, là một sự hiếu kỳ. Ngài hỏi: "Ðiều gì đã thúc đẩy anh em trở thành các phi hành gia?
+ Phi hành gia người Nga Sergei Ryazanskiy cho biết chọn lựa trở thành phi hành gia của ông có liên quan đến ông nội của mình, một trong những người tiên phong trong ngành không gian và là kỹ sư của phi thuyền không gian Sputnik 1. Sergei muốn theo bước ông nội của mình vì không gian rất xinh đẹp và lý thú và cũng rất quan trọng đối với con người. Phi hành gia Randy Bresnik người Mỹ nhấn mạnh đến cơ hội có thể nhìn Trái đất "một tí" với đôi mắt của Chúa" và nhìn vẻ đẹp không thể tin nỗi của hành tinh này. Ông cho biết thêm, với vận tốc của quỹ đạo là 10 km/ giây, các phi hành gia nhìn Trái đất với đôi mắt khác: chúng tôi nhìn thấy một Trái đất không có biên giới, nơi mà bầu khí quyển vô cùng mỏng manh, và quan sát Trái đất lúc này chúng tôi nghĩ về con người, nghĩ đến việc chúng ta cùng nhau làm việc thế nào cho một tương lai tốt hơn.
- Câu hỏi thứ 4 của Ðức Thánh Cha dựa trên một quan sát: hành trình trong không gian thay đổi nhiều điều, ví dụ như ý niệm "trên" và "dưới". Có điều gì khi đang sống trong trạm không gian làm anh em ngạc nhiên? Ngược lại, có điều gì đánh động anh em bởi vì nó được xác định ở đó, trong một bối cảnh khác như thế?
+ Phi hành gia người Mỹ Mark T. Vande Hei trả lời: "Ðiều làm tôi ngạc nhiên là sự kiện "trong không gian bạn thấy các sự vật hoàn toàn khác, dường như là những điều không thể nhận ra được. Ông nói thêm: để hiểu tôi ở đâu, tôi phải quyết định đâu là trên và đâu là dưới và thiết lập mô hình thu nhỏ của tôi.
- Câu hỏi cuối cùng, Ðức Thánh Cha nói: xã hội của chúng ta rất là cá nhân và ngược lại cuộc sống của chúng ta rất cần sự cộng tác với nhau. Các anh có thể nêu vài ví dụ có ý nghĩa về sự cộng tác của anh em trên trạm không gian không?
+ Phi hành gia Joseph Acaba người Mỹ nói rằng "trạm không gian là một ví dụ của sự cộng tác quốc tế". Có những người Mỹ, người Nga, Nhật, Canada, 9 nước châu Âu... Một điều quan trọng và lý thú là mỗi người có sự khác nhau và tất cả sự khác nhau này được đặt chung làm thành một tổng hợp rất lớn, hơn một người duy nhất. Với nhau, chúng tôi có thể làm nhiều điều tốt hơn nếu chúng tôi chỉ làm một mình.
Sau câu trả lời, Ðức Thánh Cha nhận xét: "Anh em là một tòa nhà bằng kiếng nhỏ mà tổng thể lại lớn hơn tổng số của các phần". Ðây là mẫu gương của anh em đối với chúng tôi.
Trước khi kết thúc, Ðức Thánh Cha đã chào và cám ơn các phi hành gia. Ngài nói: "Chúng tôi nhìn nhận anh em như những đại diện của cả gia đình nhân loại trong chương trình nghiên cứu vĩ đaị ở trạm không gian.
Tiến sĩ Nespoli cũng cám ơn Ðức Thánh Cha đã đánh giá cao các phi hành gia, đã đưa họ ra khỏi khung cảnh máy móc hàng ngày và đã giúp họ nghĩ đến những điều lớn hơn. (REI 26/10/2017

Không có các Kitô hữu "bình chân như vại", không chiến đấu chống lại sự ác.

Không có các Kitô hữu "bình chân như vại", không chiến đấu chống lại sự ác.
Vatican (Vat. 26-10-2017) - Không có những Kitô hữu "bình chân như vại", cảm thấy an tâm và không chiến đấu chống lại sự ác. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta thay đổi đời sống, thay đổi cách sống; Ngài mời gọi chúng ta hoán cải. Thay đổi chính mình là một cuộc chiến đấu chống lại sự ác, cả sự ác ở trong trái tim chúng ta, một cuộc chiến không để cho chúng ta yên thân nhưng lại ban cho chúng ta sự bình an." Ðức Thánh Cha Phanxicô đã chia sẻ những ý tưởng trên trong bài giảng Thánh lễ tại nhà nguyện thánh Marta sáng thứ Năm 26 tháng 10 năm 2017.
Giải nghĩa đoạn Tin mừng theo thánh Luca 12,49-53, trong đó Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng Ngài đã đến ném lửa vào mặt đất, Ðức Thánh Cha giải thích rằng loại lửa mà Chúa Giêsu ném xuống thế gian là loại lửa đòi hỏi chúng ta phải thay đổi. Chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ, thay đổi cách cảm nghĩ. Trước đây trái tim của chúng ta thuộc về thế gian, không thuộc về Thiên Chúa, nhưng bây giờ trái tim chúng ta đã trở thành trái tim của Kitô hữu với sức mạnh của Chúa Kitô. Ðó là sự thay đổi và cũng có nghĩa là hoán cải. Sự hoán cải này là một cuộc hoán cải toàn diện, bao gồm tất cả thân xác và linh hồn. Ðiều này là một sự hoán cải nội tâm, hoán cải thật sự như Ðức Thánh Cha giải thích: "Ðó là sự thay đổi nhưng không phải là sự thay đổi hình thức, bên ngoài, giả tạo, mà là sự thay đổi nội tâm, do Chúa Thánh Thần thực hiện và chúng ta phải cộng tác để Chúa Thánh Thần có thể hoạt động. Ðiều này có nghĩa là chúng ta phải chiến đấu, chiến đấu!" Chúng ta cộng tác với Chúa Thánh Thần, nghĩa là đề cho Ngài đi vào tâm hồn chúng ta, Ngài giúp hoán cải chúng ta. Chấp nhận để Chúa Thánh Thần hoạt động là một cuộc chiến đấu chống lại sự ngủ yên, chống lại chọn lựa ở yên và không muốn thay đổi. Thay đổi đòi chúng ta phải chiến đấu vượt qua con người cũ với lối sống cũ, những suy nghĩ cũ và cách hành động cũ.
Trong lối sống cũ các Kitô hữu cảm thấy an tâm nhưng Ðức Thánh Cha nhắc rằng không có những Kitô hữu "bình chân như vại", cảm thấy yên hàn và không cần chiến đấu mỗi ngày và không phấn đấu chống lại sự dữ. Ðó không phải là các Kitô hữu mà là những người dửng dưng, nửa nóng nửa lạnh. Ðức Thánh Cha nói rằng người ta có thể tìm thấy sự an bình để ngủ ngon với một viên thuốc, nhưng không có những viên thuốc có thể đem lại sự bình an nội tâm. Chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể ban sự bình an của tâm hồn và bình an đó mang lại sức mạnh cho các Kitô hữu.
Ðức Thánh Cha mời gọi các tín hữu cộng tác với Chúa Thánh Thần bằng cách để khoảng trống cho Chúa Thánh Thần trong tâm hồn mình. Chúa Thánh Thần có vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống lại sự ác của Kitô hữu: "Chúa Thánh Thần giúp chúng ta rất nhiều trong việc kiểm điểm lương tâm, mọi ngày, giúp chúng ta chiến đấu chống lại các căn bệnh của tinh thần mà kẻ thù gieo vãi và là các căn bệnh của thế gian."
Chúng ta có thể nghĩ rằng Chúa Giêsu chống lại ma quỷ là chuyện của Ngài, là chuyện đã qua. Nhưng Ðức Thánh Cha nhắc nhở các tín hữu rằng: "Cuộc chiến mà Chúa Giêsu chống lại ma quỷ, chống lại sự ác, không phải là chuyện cổ điển xa xưa, nhưng nó rất mới, rất hiện đại, là chuyện của thời nay, của hôm nay, của mọi ngày", bởi vì "ngọn lửa mà Chúa Giêsu đã đến và mang đến cho chúng ta thì ở trong tâm hồn chúng ta." Lửa Chúa Giêsu mang đến đòi chúng ta chiến đấu chống lại những gì ngược lại với Thiên Chúa. Vì vậy chúng ta phải để cho Chúa đi vào tâm hồn chúng ta và mỗi ngày tự hỏi chính mình: "tôi đã vượt qua tính thế gian, qua tội lỗi, đến với ân sủng thế nào? Tôi có để cho Chúa Thánh Thần có chỗ trong tâm hồn tôi để Ngài có thể hoạt động không?
Những khó khăn trong cuộc sống chúng ta không thể được giải quyết bằng cách giảm nhẹ chân lý, để cho sự việc được dễ dàng. Ðức Thánh Cha nói rằng chân lý chính là Chúa Giêsu đã mang lửa và chiến đấu vào thế gian, tôi sẽ làm gì? Hoán cải, thay đổi, chiến đấu chống sự ác luôn là điều cần thiết.
Ðức Thánh Cha đã kết luận bài giảng: hoán cải "cần một trái tim quảng đại và trung thành": "quảng đại là điều luôn đến từ tình yêu và trung thành đến từ Lời Chúa." (REI 26/10/2017)

Một Trăm Năm Ðức Mẹ Fatima tại Liên Hiệp Quốc.

Một Trăm Năm Ðức Mẹ Fatima tại Liên Hiệp Quốc.
New York (VietCatholic News ) - Thứ Sáu 12 tháng Năm năm 2017, tại Liên Hiệp Quốc, Ðức Tổng Giám Mục Bernardito Auza, Ðại Sứ và là Quan Sát Viên Thường Trực của Tòa Thánh bên cạnh Liên Hiệp Quốc, đã đọc một bài diễn văn tựa là "Một Trăm Năm Fatima và Sự Liên Hệ Lâu Dài của Sứ Ðiệp Hòa Bình của Nó". Ngài cho rằng sứ điệp này không những ngỏ với thế giới Công Giáo mà còn là một bài học phổ quát "cho mọi người đang theo đuổi hòa bình".
Dưới đây là bản dịch Việt ngữ toàn văn bài diễn văn của Ðức Tổng Giám Mục Bernardito Auza:
* * *
Thưa Ðại Sứ Mendonca e Moura, Ðại Diện Thường Trực của Bồ Ðào Nha cạnh Liên Hiệp Quốc, Qúy Ngài, Qúy Diễn Giả, qúy bà và qúy ông,
Thực là một niềm vui lớn đối với riêng cá nhân tôi và đối với Sứ Bộ Quan Sát Viên Thường Trực của Tòa Thánh được hợp tác với Sứ Bộ Thường Trực của Bồ Ðào Nha cạnh Liên Hiệp Quốc để tổ chức biến cố kỷ niệm này dự ứng cho lễ kỷ niệm 100 năm việc khởi đầu các lần hiện ra ở Fatima vào ngày mai.
Ngay lúc này đây, Ðức Giáo Hoàng Phanxicô đang tới căn cứ không quân Monte Real ở Leiria, Bồ Ðào Nha, và trong vài phút nữa sẽ hội kiến với Tổng Thống Bồ Ðào Nha Marcelo Rebelo de Sousa. Trong khi chúng ta đang tổ chức biến cố này ở đây, thì ngài đang dùng trực thăng để tới vận động trường Fatima và sẽ chuyển xe để tới Ðền Thánh Ðức Mẹ Fatima nơi, khi biến cố của chúng ta chấm dứt, thì ngài sẽ bước vào Capelinha, tức ngôi nhà nguyện Hiện Ra nhỏ bé để cầu nguyện và sẵn sàng chủ tọa buổi cầu nguyện dưới ánh nến và đọc kinh Mân Côi ban đêm.
Ðối với những người chúng ta không thể có mặt ở Fatima với ngài để đánh dấu một trăm năm, tôi nghĩ đây, Liên Hiệp Quốc này, là nơi tốt thứ nhì để nói về Sự Liên Hệ Lâu Dài của Sứ Ðiệp Hòa Bình mà ba trẻ chăn chiên đầy khả tín chứng thực rằng vào ngày mai cách nay 100 năm, một bà mặc áo trắng tự xưng mình từ trời xuống đã loan báo cho các em lần đầu tiên.
Và vì chúng ta không thể ở đó, ở Cova da Iria, nên một phần của Fatima đã tới đây, tới trụ sở của Liên Hiệp Quốc này.Thánh tượng chúng ta hiện có đã được Ðức Giáo Hoàng Piô XII làm phép tại Vatican cách ngày mai 70 năm, tức năm 1947, nhân dịp kỷ niệm 30 năm việc khởi đầu các lần hiện ra ở Fatima và sau đó lại được làm phép bởi Ðức Giám Mục Fatima vào ngày 13 tháng Mười năm 1952, dịp kỷ niệm năm thứ 35 lần hiện ra cuối cùng ở đó. Sau khi được làm phép ở Fatima, thánh tượng đã được chở tới Hoa Kỳ, nơi, vào ngày 8 tháng Mười Hai năm 1952, thánh tượng được chở tới Liên Hiệp Quốc bởi Ðức Ông Harold Colgan, một linh mục ở Tiểu Bang New Jersey, người, 6 năm trước đó, đã thành lập một tổ chức sau này trở thành Ðạo Binh Xanh và Tông Ðồ Thế Giới Fatima. Với một người bạn, Ðức Ông Colgan đã đem thánh tượng vào Phòng Suy Niệm bên cạnh Hành Lang Vãng Lai, nơi các ngài đọc kinh Mân Côi cầu cho hòa bình thế giới và chấm dứt Chiến Tranh Triều Tiên.
Hôm nay, sau gần 65 năm, bản sao thánh tượng ngự ở Nhà Nguyện Hiện Ra ở Fatima này lại trở lại Liên Hiệp Quốc. Chúng ta hy vọng các lời cầu nguyện cho hòa bình từng được đọc trước đây trước thánh tượng này trong khoảng sáu thập niên rưỡi vừa qua, bởi hàng triệu người khắp Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại và nhiều quốc gia khác, sẽ được lắng nghe một cách đặc biệt cho hòa bình trên thế giới ngày nay nơi bạo lực đang tàn phá. Với sự phù giúp của ngài, chúng ta cầu nguyện một cách đặc biệt cho việc chấm dứt chiến tranh tại Syria, cho việc chấm dứt các đe dọa chiến tranh ngày một gia tăng ở bán đảo Triều Tiên, cho việc kết thúc bạo động ở Nam Sudan, ở Somalia, ở Yemen, ở Cộng Hòa Trung Phi, ở Cộng Hòa Dân Chủ Congo, và ở Ðông Ukraine và các nơi khác đang có tranh chấp. Chúng ta cũng cầu nguyện cho việc chấm dứt khủng bố, bách hại tôn giáo, sắc tộc và chủng tộc, các đàn áp độc đoán, các tập đoàn ma túy sát nhân và tội ác có tổ chức, việc buôn người và các hình thức nô lệ tân thời, và những cuộc nổi dậy có tính quốc gia vốn đã và đang làm nhơ thế giới bằng máu và hận thù.
Khi chúng ta khảo sát sứ điệp của ba trẻ chăn chiên ở Fatima, Lucia dos Santos và các em họ của chị là Phanxicô và Jacinta Marto, sứ điệp mà người phụ nữ được thánh tượng này tượng trưng đã nói với các em, chúng ta có thể nói rằng Ðức Maria chủ yếu xuất hiện như một vị Ðại Sứ của Hòa Bình với lời kêu gọi các em trở thành các thành viên tham mưu, nói theo biệt ngữ của Liên Hiệp Quốc, trong Sứ Bộ Thường Trực của ngài cạnh mọi quốc gia. Và sứ bộ này, cho tới hôm nay, vẫn có liên hệ, vì hơn 50 tranh chấp bạo động hiện đang diễn biến trên khắp thế giới, trong điều mà Ðức Giáo Hoàng Phanxicô quen gọi là "Thế Chiến thứ 3 được đánh từng mảng" y hệt như cách nay một thế kỷ thời Thế Chiến thứ nhất.
Tuy nhiên, trước khi đề cập tới "kế hoạch hòa bình" mà các trẻ chăn chiên nói rằng Vị Ðại Sứ của Hòa Bình đầy tình mẫu tử này đã công bố với các em, tôi muốn trực diện nói tới tính khả tín của những lần hiện ra ở Fatima. Làm thế nào ta có thể biết rằng điều các trẻ chăn chiên chứng thực rằng Ðức Bà Fatima đã tỏ cho các em là đúng? Ðối với những người không tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa hay sự siêu nhiên, thì những gì được cho là đã xảy ra ở Fatima cách đây một thế kỷ chỉ như thuộc lĩnh vực các câu chuyện thần tiên hơn là sự kiện. Ðối với những ai tin vào Thiên Chúa, nhưng ý niệm của họ là về một vị thần tách biệt khỏi hiện sinh trần thế, thì sự can thiệp của một phụ nữ được cho là từ trời đến với những đứa trẻ chăn chiên như thế cũng khó mà có thể tin được. Ðối với những tín đồ không phải là Kitô giáo, đối với những Kitô hữu thấy khó có thể chấp nhận lòng sùng kính Mẹ Chúa Giêsu của người Công Giáo hoặc Chính Thống Giáo, hoặc thậm chí đối với những người Công Giáo không thích ý niệm hiện ra một cách lạ lùng, thì những gì xảy ra ở Fatima dường như chỉ là mê tín dị đoan của những người có thiện ý nhưng cả tin.
Hầu hết những người không phải là Công Giáo và ngay cả nhiều người Công Giáo đều ngạc nhiên khi họ được biết người Công Giáo không phải tin vào những gì được cho là đã xảy ra ở Fatima cách đây một thế kỷ. Họ không phải tin rằng Ðức Maria đã hiện ra gì cả, hoặc bất cứ điều gì ngài yêu cầu các trẻ chăn chiên. Trong thần học Công Giáo, những gì xảy ra ở Fatima được gọi là "mặc khải tư", có ý nói đến các thị kiến và các cuộc hiện ra, được Giáo Hội chấp thuận như là đáng tin, đã diễn ra từ khi hoàn thành bộ Tân Ước. Khi Giáo Hội công nhận một mặc khải tư, thì người Công Giáo không bị kêu gọi phải tin nó như cách họ phải tin các nội dung của Thánh Kinh hay các nội dung của Thánh Truyền do những người theo chân Chúa Giêsu đầu tiên truyền lại. Thay vào đó, nó được chấp nhận là đáng tin và có thể xảy ra bằng điều chúng ta có thể gọi là niềm tin nhân bản, sự khôn ngoan, hoặc lương tri đã tinh luyện.
Nói cách khác, khi xem xét chứng từ mà Lucia, Phanxicô và Jacinta nói rằng các em là những nhân chứng rất đáng tin cậy, Giáo Hội thấy sứ điệp do các em thuật lại không chứa bất cứ điều gì trái ngược với những gì Giáo Hội vốn coi là chân lý đức tin hay hợp lý, và mọi người được phép chấp nhận chúng một cách khôn ngoan. Mục đích của các mặc khải tư như vậy, theo thần học của Giáo Hội, là giúp người ta hiểu và sống giáo huấn của Chúa Giêsu tốt hơn vào một thời điểm cụ thể nào đó, nhưng người ta không bắt buộc phải sử dụng sự giúp đỡ này, ngay cả khi Giáo Hội dạy rằng không nên vô tình làm ngơ nó.
Chúng ta hãy áp dụng các nguyên tắc trên vào cách chúng ta hiểu phép lạ công cộng dường như đã xảy ra vào ngày 13 tháng 10 năm 1917, trong lần hiện ra cuối cùng. Hai tháng trước đó, các em nói rằng Ðức Maria hứa sẽ có một phép lạ để giúp người ta tin vào những gì các trẻ chăn chiên nói. Có bảy mươi nghìn người có mặt, dưới cơn mưa như trút, và không chỉ là những tín hữu. Có cả những người có thể mô tả là duy tục có óc tò mò nhưng cũng rất lớn tiếng và các lực lượng phản giáo sĩ, các nhà báo và những kẻ hoài nghi; họ muốn làm nhân chứng tận mắt chống gian lận chứ làm gì có phép lạ nào. Vào một lúc nhất định kia, khi nghe và thấy Ðức Bà, đấng mà không ai khác có thể nhìn thấy, các em hướng nhìn lên trên trời, bỗng những đám mây đen tách ra, và mặt trời xuất hiện như một chiếc đĩa mờ mờ, quay tròn trên bầu trời, và cuối cùng lao về hướng trái đất trước khi vòng vèo trở lại vị trí bình thường của nó.
Mọi người hét lên như sắp chết. Các nhà báo của tờ O Dia ở Lisbon mô tả những gì họ và những người khác thấy như sau:
"Lúc 1 giờ chiều, giữa trưa của mặt trời, mưa dừng lại. Bầu trời, màu xám ngọc trai, chiếu sáng quang cảnh khô cằn bằng một ánh sáng kỳ lạ. Mặt trời có một tấm màn che mỏng như sa nhưng nhìn thấu qua để mắt trần có thể dễ dàng nhìn thẳng vào nó. Mầu xám ngọc trai biến thành một màn bạc xuất hiện khi những đám mây tản ra và người ta thấy mặt trời mầu bạc, bao phủ trong cùng một ánh sáng xám xịt mỏng nhẹ như sa ấy, quay cuồng và chạy vòng tròn quanh các đám mây vụn. Mọi cửa miệng đều kêu la và mọi người quỳ xuống đất bùn. Ánh sáng chuyển sang màu xanh đẹp đẽ như thể xuyên qua các cửa sổ kính màu của một nhà thờ chính tòa và tỏa rộng trên khắp những người đang quỳ xuống với đôi bàn tay dang ra. Màu xanh nhạt dần rồi ánh sáng dường như xuyên qua kính màu vàng. Những đốm vàng rơi xuống trên những chiếc khăn tay trắng, trên những váy đen của phụ nữ. Chúng được tường trình rơi trên cây, trên đá và trên sườn đồi. Người ta khóc và cầu nguyện trong khi để đầu trần khi thấy phép lạ họ vốn chờ đợi".
Avelino de Almeida, biên tập viên của O Seculo, một tờ báo lớn của Lisbon, người khởi đầu chế giễu những cuộc hiện ra, sau đó bị thúc bách bởi những gì ông quan sát để viết ra, "Từ đường lộ, nơi xe cộ dừng lại và hàng trăm người không có can đảm lội bùn tập trung, người ta có thể thấy đám đông vô số đang hướng về phía mặt trời, một mặt trời xuất hiện không một đám mây che và đang ở đỉnh cao nhất của nó. Nó trông giống như một tấm bảng bằng bạc xỉn và có thể nhìn thẳng vào nó mà không hề có sự khó chịu nào. Có thể có một cuộc nhật thực đang diễn ra. Nhưng ngay lúc đó, một tiếng hét lớn vang lên và người ta nghe thấy các khán giả gần nhất hét lên: 'Phép lạ! Phép lạ!' Trước những con mắt lạ lùng của đám đông, mà dáng vẻ của họ giống như trong Thánh Kinh: đứng im, đầu để trần, háo hức lục lọi bầu trời, mặt trời run rẩy, tạo nên các chuyển động bất ngờ, khác thường, vượt ra ngoài mọi định luật của vũ trụ - mặt trời 'nhảy múa' theo cách diễn tả rất đặc trưng của dân chúng". Cuối cùng, mặt đất và quần áo của mọi người đều khô ráo, bất chấp trận mưa như trút.
Làm thế nào một điều như thế có thể được chúng ta đánh giá sau gần một thế kỷ? Phải chăng có khả năng 70,000 người kia, trong đó có nhiều người chống các giáo sĩ, có các nhà báo đầy hoài nghi, các viên chức chính phủ đối nghịch, và các nhà chức trách của Giáo Hội, hết thẩy đều trải qua một ảo giác về mặt trời? Mà cho là đúng như thế đi chăng nữa, thì điều gì đã xảy ra cho những bộ quần áo, trong giây lát, bỗng từ ướt đẵm trở thành khô ráo hoàn toàn?
Nhà vô thần Richard Dawkins, trong cuốn The God Delusion, thừa nhận, "Không dễ dàng gì giải thích được việc bảy mươi nghìn người cùng có một ảo giác như nhau", nhưng rồi ông vẫn tiếp tục khẳng định rằng tất cả đều đã cùng có một ảo giác tập thể vì sẽ là "điều còn khó hiểu hơn khi chấp nhận rằng điều đó thực sự đã xảy ra mà cả thế giới, bên ngoài Fatima, không nhìn thấy - mà không phải chỉ nhìn thấy nó, mà còn cảm thấy nó như sự hủy hoại thảm khốc đối với hệ mặt trời". Nhưng cũng không hợp khoa học chút nào, thậm chí không hợp lý chút ào, nếu loại bỏ thẳng thừng dữ liệu mà 70,000 người đã nhất tề làm chứng, chứ không giả vờ như thể mình bị lừa dối.
Việc chấp nhận sự đáng tin cậy tổng quát của đám đông khổng lồ và đa dạng trên đây, mà không phải ai cũng là người có thiên hướng thích phép lạ, việc nhìn nhận rằng họ ở đó một cách đông đảo như thế vì các trẻ em cho biết Ðức Bà đã hứa trước đó hai tháng rằng sẽ có phép lạ vào ngày 13 tháng 10, bằng chứng vật lý của quần áo khô ngay lập tức, đã dẫn nhiều người trong suốt thế kỷ trước kết luận rằng những lần hiện ra ở Fatima là đáng tin cậy - dựa trên sự khôn ngoan của con người hoặc điều chúng ta gọi là niềm tin tự nhiên, một loại niềm tin nhờ đó chúng ta chấp nhận coi những điều chính chúng ta không quan sát được như có thật, dựa vào sự đáng tin cậy của các người làm chứng.
Và, có thể nói, đó là điều làm cho những gì xẩy ra tại Fatima có liên quan tới mọi người, vì ngay cả người Công Giáo cũng đánh giá tính xác thực của Fatima, cũng như mọi mặc khải tư, chủ yếu dựa trên niềm tin của con người hoặc việc thực thi lý lẽ, tức hỏi xem liệu điều này có thể có hay không dựa trên bằng chứng này là điều cho là đã xảy ra thực sự đã xảy ra thật. Các sự kiện cần được xem xét có thể tìm thấy trong các tờ báo chống Công Giáo của thế kỷ trước; họ đã chứng thực rằng một điều gì đó không thể giải thích một cách khoa học thực sự đã xảy ra, làm gia tăng sự khả tín đối với những gì các trẻ em đã chứng thực như một toàn bộ.
Với những điều trên làm bối cảnh quan trọng, tôi muốn trở lại với "kế hoạch hòa bình", mà các trẻ chăn chiên nói rằng người phụ nữ hứa có phép lạ mặt trời đã cho các em biết. Kế hoạch này liên quan đến một vài yếu tố chắc chắn có ý nghĩa sâu sắc và những lời yêu cầu đặc biệt đối với những người thuộc đức tin Công Giáo, nhưng tôi muốn chú tâm vào những điều tôi gọi là bài học phổ quát cho mọi người đang tìm kiếm hòa bình.
Bài học đầu tiên là về nhu cầu hoán cải. Hoán cải nghĩa là quay trở lại, là thay đổi cách suy nghĩ và cách sống của người ta, là xem xét các suy nghĩ, lời nói, hành động và không hành động của mình, xem xem, thay vì xây dựng hòa bình, tình huynh đệ và sự đoàn kết, chúng đã chia rẽ, hoặc làm hại hoặc phá huỷ ra sao. Ðến nỗi, sự thiếu hòa bình trên thế giới thường bắt nguồn từ sự kiện này: người ta không quay lưng khỏi những cung cách hiếu chiến, khỏi việc biến người khác thành đồ vật, hạ thấp nhân phẩm hoặc ngược đãi họ. Ðến độ, sự thiếu hòa bình thường phát xuất từ việc quá ám ảnh chú tâm vào những sai lầm của người khác hơn là ngẫm nghĩ về chính tác phong của mình, hoặc các chính sách của quốc gia mình, khiến người khác tìm biện pháp khắc phục bằng bất cứ phương tiện nào. Ðức Giáo Hoàng Phanxicô đã tìm cách kêu gọi cộng đồng quốc tế bước vào loại hoán cải phổ quát này, kêu mời chúng ta quay mình khỏi việc thờ ngẫu thần tiền bạc vốn có khả năng dẫn toàn bộ nhiều quốc gia bỏ bê và làm khổ người nghèo, khỏi việc buôn bán vũ khí đang triển nở chỉ làm gia tăng cuộc tàn sát mà các tên độc tài và khủng bố vốn có thể thực hiện, khỏi việc thiếu sự hiếu khách đối với những người phải chạy trốn các tình huống chiến tranh, nghèo đói hoặc thiên tai. Nếu không có sự hoán cải này, hòa bình sẽ mãi mãi chỉ là ảo ảnh. Sự hoán cải là điều kiện tiên quyết của hòa bình.
Bài học phổ quát thứ hai là về việc hòa bình bắt đầu từ đâu. Các trẻ chăn chiên nói rằng sau khi cho thấy các thị kiến khủng khiếp về hỏa ngục, về sự tàn phá do chủ nghĩa cộng sản vô thần gây ra, và cuộc bách hại Giáo Hội đến mức ám sát một vị giám mục mặc áo trắng - tất cả đều gây ra bởi các tội lỗi mà thế giới cần phải hoán cải - Ðức Maria đã mô tả cho các em một phương thuốc, đó là việc dâng mình cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của ngài. Ðiều này có ý nói tới một cam kết tìm cách bắt chước trái tim của Ðức Maria, một trái tim mà các Kitô hữu tin rằng rất trong sạch và không phân chia, khôn ngoan và vâng lời, trung thành và thận trọng, một trái tim yêu mến Thiên Chúa với tất cả những gì mình có và yêu thương người khác bằng tình yêu mến Thiên Chúa. Một trái tim như thế, Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô tương lai sẽ viết vào năm 2000, năm năm trước khi ngài được bầu làm giáo hoàng rằng "nó mạnh hơn súng và vũ khí mọi loại" và có khả năng thay đổi lịch sử. Hòa bình bắt đầu từ trong trái tim. Nếu trái tim không có hòa bình, sẽ rất khó để ta có thể là người kiến tạo hòa bình, người xây dựng và người duy trì. Người ta phải được biến đổi. Và từ sự biến đổi này, cuộc cách mạng hòa bình mới xuất hiện, như chúng ta thấy trong các cố gắng và thành công của những nhà kiến tạo hòa bình vĩ đại trong các thế kỷ gần đây.
Bài học phổ quát thứ ba là về cầu nguyện. Cầu nguyện là công cụ của hòa bình. Các trẻ chăn chiên nói rằng Ðức Maria yêu cầu các em cầu nguyện và hy sinh cho người khác ăn năn trở lại ngõ hầu bình an trở về với linh hồn họ. Ngài yêu cầu các em đọc những lời kinh đặc biệt, như chuỗi Mân Côi hay lời kinh khác giữa các chục kinh của chuỗi Mân Côi, hoặc vào ngày thứ Bảy đầu tháng. Nhưng có hai bài học tổng quát về cầu nguyện. Ðầu tiên là về giá trị chủ quan của cầu nguyện, tức lời cầu nguyện biến đổi người cầu nguyện, nhất là khi người ta cầu nguyện một cách khiêm tốn và với lòng thương xót. Ngay cả những người không tin cũng nhìn nhận rằng cầu nguyện có một tác động tích cực đối với người ta, một điều được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý và y học chứng thực. Nhưng sứ điệp của Fatima còn chứa đựng một bài học về giá trị khách quan của cầu nguyện nữa, tức là lời cầu nguyện có thể thay đổi không những thế giới bên trong người cầu nguyện mà cả thế giới bên ngoài họ nữa. Và hơn bất cứ hành động kiến tạo hoà bình nào, Ðức Maria đã mời gọi các trẻ chăn chiên phải cầu nguyện, những lời cầu nguyện cho người khác hóan cải, những lời cầu nguyện cho nước Nga quay lưng khỏi chủ nghĩa cộng sản vô thần Bolshevik mới chớm nở mà ngài tiên đoán sẽ gây tổn hại lớn cho thế giới, những lời cầu nguyện cho vị giám mục áo trắng bị bắn. Những lời cầu nguyện này dường như đã mang lại hiệu quả, như Thánh Gioan Phaolô II đã nói ở Fatima vào năm 1982 và năm 2000, khi ngài cảm ơn Ðức Mẹ và cảm ơn Jacinta về những lời cầu nguyện đã cứu mạng ngài và năm 1991 sau những biến cố quan trọng của năm 1989, lúc ngài ghi công Ðức Maria qua lời cầu nguyện "đã hướng dẫn bằng tình âu yếm mẫu tử nhiều dân tộc tới tự do. Ðức Maria nói rằng trong công trình hòa bình, trước việc hành động, tuy là việc không thể thiếu được, nhưng cầu nguyện và sự hy sinh phải diễn ra trước nhất".
Và bài học thứ tư và cuối cùng là về sự cần thiết phải có sự tham gia của mọi người vào công việc kiến tạo hòa bình. Ðiều đáng ngạc nhiên là Ðức Maria thích đến với, không phải những người đứng đầu nhà nước hoặc các nhà ngoại giao hoặc lãnh đạo tôn giáo để trực tiếp ghi danh họ vào chính nghĩa hoà bình, nhưng với ba đứa trẻ đơn sơ không được giáo dục nhiều và ủy thác cho các em một sứ điệp, các bí mật và một nhiệm vụ đặc biệt vì chính nghĩa hòa bình và thiện ích của các linh hồn và của thế giới. Các tiêu chuẩn chọn lựa của Ðức Maria cho ta thấy rằng mọi người đều có một vai trò, ngay cả những người mà thế giới coi là không đáng kể, hoặc không có khả năng hoặc quá trẻ. Nếu những trẻ chăn chiên có thể được chọn lựa, và các em có thể đáp ứng hết lòng như đã làm, thì đây là một dấu hiệu cho thấy mọi người đều có thể làm được.
Và như thế, khi chúng ta kỷ niệm một trăm năm của Fatima, chúng ta nắm vững điều này: chúng ta không chỉ đơn thuần cử hành một loạt biến cố của quá khứ, nhưng tôi tin rằng, chúng ta cử hành một điều hết sức hiện thực, có tính liên quan lâu dài, đối với hiện tại và cả tương lai của chúng ta nữa. Ngày nay, sứ điệp hòa bình mà các trẻ chăn chiên nói rằng Bà từ thiên đàng mang đến, và những thực hành hoán cải, biến đổi tâm hồn, việc cầu nguyện và sự dấn thân mà Bà đã chỉ dẫn cũng vẫn quan trọng cho hòa bình trên thế giới như cách đây một thế kỷ.
Cũng như Ðức Giáo Hoàng Phanxicô ở Fatima đêm nay và ngày mai tìm cách hướng dẫn mọi người Công Giáo khắp thế giới cầu nguyện cho hòa bình và biết ơn di sản sống động mà vị Ðại Sứ Hòa Bình đầy tình mẫu tử đã để lại, cả chúng ta nữa cũng tụ tập ở đây tại Liên Hiệp Quốc, cùng cam kết góp phần của chúng ta, như Phanxicô, Jacinta và Lucia, trong việc đáp lại lời kêu gọi cao quý và chính nghĩa khẩn trương kiến tạo hòa bình.